Từ năm 2018, năng lực sản xuất điện cực than chì tại Trung Quốc đã tăng lên đáng kể. Theo số liệu của Baichuan Yingfu, năng lực sản xuất quốc gia năm 2016 là 1,167 triệu tấn, với tỷ lệ sử dụng công suất thấp chỉ 43,63%. Năm 2017, năng lực sản xuất điện cực than chì của Trung Quốc đạt mức thấp nhất là 1,095 triệu tấn, và sau đó, với sự cải thiện về sự phát triển của ngành, năng lực sản xuất tiếp tục được nâng cao. Đến năm 2021, năng lực sản xuất điện cực than chì của Trung Quốc đạt 1,759 triệu tấn, tăng 61% so với năm 2017. Năm 2021, tỷ lệ sử dụng công suất của ngành là 53%. Năm 2018, tỷ lệ sử dụng công suất cao nhất của ngành điện cực than chì đạt 61,68%, sau đó tiếp tục giảm. Dự kiến tỷ lệ sử dụng công suất năm 2021 sẽ là 53%. Năng lực sản xuất điện cực than chì chủ yếu tập trung ở miền Bắc và Đông Bắc Trung Quốc. Năm 2021, năng lực sản xuất điện cực than chì ở miền Bắc và Đông Bắc Trung Quốc sẽ chiếm hơn 60%. Từ năm 2017 đến năm 2021, năng lực sản xuất điện cực than chì đô thị “2+26” sẽ ổn định ở mức 400.000 đến 460.000 tấn.
Từ năm 2022 đến năm 2023, công suất sản xuất điện cực than chì mới sẽ giảm. Năm 2022, công suất dự kiến đạt 120.000 tấn, và năm 2023, công suất điện cực than chì mới dự kiến đạt 270.000 tấn. Liệu phần công suất sản xuất này có thể được đưa vào hoạt động trong tương lai hay không vẫn phụ thuộc vào lợi nhuận của thị trường điện cực than chì và sự giám sát của chính phủ đối với ngành công nghiệp tiêu thụ năng lượng cao, do đó vẫn còn một số bất ổn.
Điện cực than chì thuộc ngành công nghiệp tiêu thụ năng lượng cao và phát thải carbon cao. Lượng phát thải carbon trên mỗi tấn điện cực than chì là 4,48 tấn, chỉ đứng sau kim loại silic và nhôm điện phân. Dựa trên giá carbon là 58 nhân dân tệ/tấn vào ngày 10 tháng 1 năm 2022, chi phí phát thải carbon chiếm 1,4% giá thành của điện cực than chì công suất cao. Lượng điện năng tiêu thụ trên mỗi tấn điện cực than chì là 6000 kWh. Nếu tính giá điện ở mức 0,5 nhân dân tệ/kWh, chi phí điện chiếm 16% giá thành của điện cực than chì.
Trong bối cảnh “kiểm soát kép” mức tiêu thụ năng lượng, tỷ lệ vận hành của nhà máy thép lò điện hồ quang (eAF) sử dụng điện cực than chì ở khâu cuối bị hạn chế đáng kể. Kể từ tháng 6 năm 2021, tỷ lệ vận hành của 71 doanh nghiệp thép eAF đã ở mức thấp nhất trong gần ba năm, và nhu cầu về điện cực than chì đã bị giảm mạnh.
Sự gia tăng sản lượng điện cực than chì ở nước ngoài và khoảng cách cung cầu chủ yếu là do điện cực than chì siêu cao áp. Theo dữ liệu của Frost & Sullivan, sản lượng điện cực than chì ở các nước khác trên thế giới đã giảm từ 804.900 tấn năm 2014 xuống còn 713.100 tấn năm 2019, trong đó sản lượng điện cực than chì siêu cao áp chiếm khoảng 90%. Từ năm 2017, sự gia tăng khoảng cách cung cầu điện cực than chì ở nước ngoài chủ yếu đến từ điện cực than chì siêu cao áp, nguyên nhân là do sản lượng thép thô lò điện ở nước ngoài tăng mạnh từ năm 2017 đến năm 2018. Năm 2020, sản lượng thép lò điện ở nước ngoài giảm do ảnh hưởng của dịch bệnh. Năm 2019, xuất khẩu ròng điện cực than chì của Trung Quốc đạt 396.300 tấn. Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch bệnh, sản lượng thép lò điện ở nước ngoài giảm đáng kể xuống còn 396 triệu tấn, giảm 4,39% so với năm trước, và xuất khẩu ròng điện cực than chì của Trung Quốc giảm xuống còn 333.900 tấn, giảm 15,76% so với năm trước.
Thời gian đăng bài: 23/02/2022